Chuyển đổi nhân khẩu tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức

0
255

GiadinhNet – Việt Nam là một trong số ít các quốc gia trên thế giới sớm thực hiện Chương trình DS-KHHGĐ (từ 1961). Sau hơn nửa thế kỷ bền bỉ thực hiện, Việt Nam đang ở thời kỳ chuyển đổi mạnh mẽ về nhân khẩu. Sự thay đổi này mang đến những thời cơ lớn và cả những thách thức không nhỏ cho sự phát triển chung của đất nước, đòi hỏi những quyết sách mới cho quốc gia.

Cán bộ dân số tỉnh Khánh Hòa truyền thông KHHGĐ cho ngư dân vùng biển. ảnh: Dương Ngọc

Cán bộ dân số tỉnh Khánh Hòa truyền thông KHHGĐ cho ngư dân vùng biển. ảnh: Dương Ngọc

Việt Nam liên tục duy trì được mức sinh ổn định

Việt Nam chính thức bắt đầu thực hiện Chương trình DS-KHHGĐ từ năm 1961. Khi đó, trung bình mỗi phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi sinh đẻ có 6,4 con, đến nay chỉ còn 2,09 con. Nếu lấy mốc năm 2006, Việt Nam chính thức đạt mức sinh thay thế (tức trung bình mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), thì từ đó đến nay, mức sinh của Việt Nam liên tục được duy trì ổn định. Mô hình sinh nhiều, sinh dày đã được chuyển sang mô hình sinh ít, sinh thưa.

Nếu như năm 1989, trung bình 1.000 trẻ sinh ra có tới 42,3 em tử vong thì nay giảm còn 14,9 em. Điều này đã góp phần quan trọng vào việc gia tăng tuổi thọ bình quân. Tuổi thọ người Việt Nam hiện nay là 73,2 tương đương với các nước đã phát triển, thậm chí vượt cả Nga, Trung Quốc…

Sự thay đổi về cơ cấu dân số giữa các nhóm tuổi và tỷ số người phụ thuộc giảm đã giúp Việt Nam đang ở thời kỳ “cửa sổ nhân khẩu” với các “dư lợi nhân khẩu”, đồng thời cũng trong giai đoạn “già hóa dân số”. Thời gian của dư lợi kéo dài trong vài thập kỷ và phụ thuộc vào sự biến động mức sinh của dân số đó. Liên Hợp Quốc đã đưa ra bốn nhóm lợi ích lớn của thời kỳ này là: Cung cấp lực lượng lao động; Tiết kiệm, đầu tư nguồn lực; Nguồn lực con người và tiêu dùng.

Tháng 11/2013, dân số Việt Nam tròn 90 triệu người, một sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử phát triển nhân khẩu Việt Nam nói riêng cũng như trong tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam nói chung. Việt Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới về quy mô dân số, trong đó có tới gần 63 triệu người đang độ tuổi lao động. Đây sẽ là nguồn lực vô cùng lớn cho sự phát triển của quốc gia. Sự chuyển đổi nhân khẩu trong bối cảnh môi trường chính trị ổn định và trên nền tảng đặc điểm, tính cách người Việt thì Việt Nam luôn là lựa chọn hàng đầu của các dòng chuyển dịch đầu tư trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam hội nhập sâu, rộng với thế giới.

Thách thức  không nhỏ

Tuy nhiên, làm thế nào để có thể tận dụng, phát huy được những lợi thế trên lại là một bài toán nan giải khi mà chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thức bước vào giai đoạn “già hóa dân số”. Các nhà khoa học trong, ngoài nước đã dự báo, tốc độ “già hóa dân số” Việt Nam thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Năm 2050, Việt Nam sẽ là quốc gia “siêu già” như Nhật Bản hiện nay. Nếu như các nước đã phát triển mất hàng thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ để chuyển từ giai đoạn “già hóa dân số” sang giai đoạn “dân số già” thì Việt Nam chưa đến hai thập kỷ. Nửa thế kỷ nỗ lực giảm sinh, chưa đầy nửa thế kỷ sau, Việt Nam đã thành quốc gia “siêu già”. Xây dựng một xã hội thích ứng là thách thức không hề nhỏ đối với Việt Nam.

Trong dòng chảy sôi động của đô thị hóa, di cư là một quy luật tất yếu và là động lực cho sự phát triển. Các dòng di cư ở Việt Nam chủ yếu từ nông thôn ra thành thị, từ Bắc vào Nam. Đông Nam Bộ là vùng thu hút người di cư đến nhiều nhất, bởi đây là trung tâm kinh tế, tài chính, chứng khoán năng động bậc nhất cả nước. Tây Nguyên là vùng hấp dẫn người di cư thứ hai của cả nước bởi đất rộng, người thưa (101 người/km2, thấp nhất cả nước). Di cư và đô thị hóa đặt ra vấn đề, phải đảm bảo quyền được di cư, cư trú của người dân và việc tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản. Từ đó, cần thay đổi cách thức quản lý dân cư theo hướng hiện đại, phù hợp với xu thế phát triển. Chưa đến 5 năm, có thể xây dựng xong một đô thị, nhưng 50 năm có thể chưa xây dựng được lối sống đô thị. Theo dự báo, năm 2020, tỷ lệ dân số thành thị nước ta tăng lên 45%, năm 2025 là 50%. Cùng với sự biến đổi tự nhiên trong cơ cấu dân số, thời gian qua, tình trạng lựa chọn giới tính thai nhi vẫn diễn ra đã dẫn đến tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam ngày càng cao và mất cân bằng tự nhiên.

Sự thiếu hụt khoảng 100 triệu phụ nữ (lớn hơn cả dân số Việt Nam) ở Trung Quốc và Ấn Độ là những bài học kinh điển cho sự phát triển bền vững bởi hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh, mà nhiều khi những hệ lụy đó vượt qua cả biên giới quốc gia và tác động đến các nước láng giềng. Có thể nói, sự chuyển đổi nhân khẩu diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam đã mang đến những lợi thế to lớn và những thách thức không nhỏ cho sự phát triển đất nước.

Dân số và biến đổi khí hậu, nước biển dâng được coi là một trong những thách thức an ninh phi truyền thống mà Liên Hợp Quốc đưa ra. Theo dự báo, đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển có thể dâng cao thêm 1m, ước tính 40%, đồng bằng sông Cửu Long, 11% Đồng bằng sông Hồng, 3% diện tích các tỉnh thuộc vùng ven biển bị ngập, riêng TP Hồ Chí Minh có thể bị ngập đến 20%; khoảng 10-20% dân số bị ảnh hưởng trực tiếp, tổn thất có thể lên tới 10% GDP.

Đó thực sự là một trong những thách thức an ninh phi truyền thống mà Việt Nam phải ứng phó. Điều đó cho thấy, những quyết sách mới, tổng thể cho quốc gia đối với vấn đề dân số và phát triển bền vững hiện cần thiết hơn bao giờ hết.

Con người là trung tâm của phát triển

Theo các chuyên gia Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, mối quan hệ giữa dân số và phát triển đang ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trên toàn cầu. Điều này đã được nhấn mạnh trong quá trình thảo luận của Chương trình hành động sau năm 2014 của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) và Chương trình nghị sự phát triển sau năm 2015, cũng như những đàm phán giữa các chính phủ xung quanh các mục tiêu phát triển bền vững. Những thách thức liên quan tới dân số và phát triển đan xen cùng với những vấn đề về nghèo đói, xu hướng tiêu dùng và bất bình đẳng. Vì con người là trung tâm của phát triển, quyền, nhu cầu và hạnh phúc của con người phải được đặt làm trọng tâm của các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển. Vì vậy, những vấn đề dân số phải được lồng ghép vào quy hoạch phát triển tại cấp quốc gia và địa phương, bao gồm cả trong bản kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn tới.

Kết quả từ Tổng điều tra Dân số và các điều tra khác cho thấy, Việt Nam đang bước vào thời kỳ cần tận dụng tối đa lợi ích của cơ cấu dân số vàng, đồng thời cũng đang trải qua thời kỳ thay đổi nhân khẩu học một cách rõ rệt: Giảm mức sinh và mức chết; Di cư diện rộng với số lượng lớn dẫn tới đô thị hóa với tốc độ chóng mặt và mất cân bằng giới tính khi sinh. Những yếu tố này đang ngày càng ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện các chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội ở cả cấp quốc gia và địa phương. Với việc đạt mức sinh thay thế và duy trì ổn định mức sinh xung quanh mức sinh thay thế sẽ tạo đà cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việt Nam đang ở thời kỳ cơ cấu dân số vàng với nhóm dân số thanh niên đông đảo nhất từ trước đến nay. Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, cơ hội dân số vàng đóng góp khoảng 1/3 cho tăng trưởng kinh tế ở một số quốc gia.

Th.S Lương Quang Đảng/Báo Gia đình & Xã hội